Thứ Ba, ngày 22 tháng 06 năm 2026
Tỷ giá cao gây áp lực lên chi phí sản xuất và giá cả tiêu dùng

Tỷ giá cao gây áp lực lên chi phí sản xuất và giá cả tiêu dùng

Sooyoung Jang 18:36 08-06-2026
Phân tích cho rằng "khả năng cạnh tranh xuất khẩu yếu hơn trước"
Các nhân viên giao dịch đang làm việc tại phòng giao dịch của Ngân hàng Hana ở Seoul vào ngày 8 tháng 6.
Các nhân viên giao dịch đang làm việc tại phòng giao dịch của Ngân hàng Hana ở Seoul vào ngày 8 tháng 6. [Ảnh=Yonhap]


Tỷ giá won đô la đã vượt qua mức 1.500 won, gây ra những tác động trái chiều cho các ngành nghề. Các doanh nghiệp có tỷ lệ xuất khẩu cao kỳ vọng vào việc cải thiện lợi nhuận nhờ vào sự tăng giá của đồng tiền, trong khi các doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu và năng lượng lo ngại về việc gia tăng gánh nặng chi phí. Người tiêu dùng cũng khó tránh khỏi việc gia tăng chi phí sinh hoạt do giá hàng nhập khẩu tăng lên.

Theo Ngân hàng Hàn Quốc, tính đến ngày 5 tháng 6, tỷ giá trung bình trong tháng này đã ghi nhận là 1.522,4 won. Tỷ giá trung bình hàng tháng đã tăng mạnh từ 1.448,4 won vào tháng 2 lên 1.492,5 won vào tháng 3, sau đó giảm nhẹ xuống 1.485,0 won vào tháng 4, nhưng lại tăng lên 1.491,3 won vào tháng trước, cho thấy sự biến động ở mức cao.

Thông thường, sự tăng giá của đồng tiền sẽ có lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Khi các doanh nghiệp chuyển đổi đô la kiếm được từ nước ngoài sang won, họ có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Các ngành như bán dẫn, ô tô và đóng tàu, có tỷ lệ xuất khẩu cao, được coi là những ngành hưởng lợi chính. Những doanh nghiệp có cơ sở sản xuất tập trung trong nước sẽ có hiệu quả cải thiện kết quả kinh doanh lớn hơn khi tỷ giá tăng.

Ngược lại, các ngành có tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu và năng lượng cao sẽ phải đối mặt với gánh nặng lớn hơn. Việc thanh toán cho dầu thô, khí tự nhiên và ngũ cốc bằng đô la có nghĩa là sự tăng giá của đồng tiền sẽ dẫn đến gia tăng chi phí. Ngành công nghiệp lọc dầu, hàng không và thực phẩm là những ví dụ điển hình. Sự gia tăng chi phí nhập khẩu có khả năng dẫn đến áp lực tăng giá sản phẩm.

Gần đây, có những phân tích cho rằng hiệu quả cải thiện khả năng cạnh tranh xuất khẩu do tỷ giá cao mang lại không còn lớn như trước. Do tỷ lệ hàng hóa trung gian nhập khẩu để chế biến và xuất khẩu cao, nên hiệu ứng tăng xuất khẩu do tỷ giá tăng có thể bị triệt tiêu bởi sự gia tăng chi phí. Đặc biệt, các mặt hàng như bán dẫn, dầu thô và nguyên liệu pin lithium rất khó tìm được hàng thay thế, do đó, ngay cả khi tỷ giá tăng, quy mô nhập khẩu vẫn phải được duy trì. Cấu trúc này dẫn đến việc tăng chi phí mua sắm.

Ảnh hưởng của tỷ giá cao cũng tác động đến các hộ gia đình. Khi giá trị đồng won giảm, giá hàng nhập khẩu tăng lên, điều này có thể ảnh hưởng đến giá xăng, thực phẩm và các khoản phí công cộng. Chi phí cho các chuyến du lịch nước ngoài và giá hàng mua trực tuyến từ nước ngoài cũng gia tăng. Gần đây, sự tăng giá dầu quốc tế cũng đang làm gia tăng lo ngại về gánh nặng chi phí của các doanh nghiệp và áp lực tăng giá.

Viện Nghiên cứu Công nghiệp (KIET) đã chỉ ra rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, sự giảm giá mạnh của dầu đã làm giảm đáng kể chi phí nhập khẩu năng lượng, giúp giảm bớt cú sốc, nhưng hiện tại, sự kết hợp giữa tỷ giá cao và giá dầu tăng đang tạo ra tình trạng thiếu vắng tấm đệm chi phí năng lượng như trong quá khứ.

Ông Kim Tae-hoon, phó nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu Công nghiệp, cho biết: "Sự tăng giá của tỷ giá đồng tiền tác động đến việc gia tăng chi phí nhập khẩu và cải thiện khả năng cạnh tranh giá xuất khẩu đồng thời" và "Trong một nền kinh tế như Hàn Quốc, nơi phụ thuộc nhiều vào hàng hóa trung gian nhập khẩu, hiệu quả cải thiện khả năng cạnh tranh xuất khẩu do tỷ giá tăng có thể bị triệt tiêu phần lớn bởi áp lực gia tăng chi phí". Ông cũng nhấn mạnh rằng "hiệu quả ròng của tỷ giá sẽ khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc nhập khẩu của từng ngành và tỷ lệ phụ thuộc vào hàng hóa trung gian, vì vậy không thể đơn giản coi tỷ giá cao là một lợi thế cho xuất khẩu."





* Bài viết này được dịch tự động bằng AI.