Nhận lời mời của Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc, Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn cùng Phu nhân và một số ban ngành của chính phủ sẽ thăm chính thức Hàn Quốc từ 06~09/9/2026. Chuyến thăm diễn ra trong bối cảnh quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai nước đang ở giai đoạn phát triển rực rỡ và thực chất nhất từ trước đến nay, trong đó kênh ngoại giao nghị viện và hoàn thiện thể chế đóng vai trò đòn bẩy quan trọng.
Không chỉ dừng lại ở các lĩnh vực đầu tư - thương mại truyền thống, hai nền kinh tế đang đứng trước bước ngoặt chiến lược với những động lực tăng trưởng mới từ bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi xanh và sự gắn kết sâu sắc giữa nhân dân hai nước.
Ngay trước thềm sự kiện ngoại giao đặc biệt quan trọng này, Báo Kinh tế Aju đã có cuộc phỏng vấn sâu với Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Việt Nam tại Hàn Quốc Vũ Hồ về tầm nhìn chiến lược, mục tiêu kim ngạch thương mại 100 tỷ USD cũng như những giải pháp cốt lõi để đưa mối quan hệ "bện tơ kết lụa" Việt - Hàn bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
PV: Thưa Đại sứ, từ khi nâng cấp lên “Đối tác Chiến lược Toàn diện”, xin Đại sứ chia sẻ những điểm sáng nổi bật nhất trong tin cậy chính trị và định hướng ưu tiên ngoại giao giữa hai nước trong giai đoạn hiện nay?
ĐS: Tôi cho rằng điểm nổi bật nhất hiện nay là tin cậy chính trị giữa hai nước đã được nâng lên một mức mới, từng bước chuyển thành kết quả cụ thể.
Điều đó trước hết thể hiện ở trao đổi cấp cao rất thường xuyên. Tháng 8/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm là vị khách cấp Nhà nước đầu tiên của chính quyền Lee Jae-myung; đến tháng 4/2026, Tổng thống Lee Jae-myung thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam và cũng là vị khách cấp Nhà nước đầu tiên sau khi Việt Nam kiện toàn lãnh đạo. Theo tôi, sự “đầu tiên” ở cả hai chiều không chỉ mang ý nghĩa lễ tân mà phản ánh mức độ coi trọng lẫn nhau rất rõ.
Điểm thứ hai là quan hệ đã phát triển tương đối toàn diện, cả về Đảng, Nhà nước, Quốc hội đến quốc phòng, an ninh, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và giao lưu nhân dân. Hai bên không chỉ trao đổi về quan hệ song phương mà ngày càng chia sẻ nhiều hơn và sâu hơn về các vấn đề khu vực và quốc tế, trong đó có hòa bình, ổn định trên bán đảo Triều Tiên và hợp tác tại ASEAN, APEC, Liên hợp quốc.
Trong giai đoạn tới, tôi cho rằng ngoại giao hai nước cần tập trung vào ba chữ: sâu hơn, thực hơn và bền hơn. Sâu hơn về tin cậy chính trị; thực chất hơn về kinh tế, công nghệ và an ninh chuỗi cung ứng; bền vững hơn về giao lưu nhân dân và sự gắn kết giữa thế hệ trẻ hai nước.
Một quan hệ đối tác chiến lược không chỉ đo bằng số lượng chuyến thăm hay văn kiện ký kết, mà quan trọng hơn là hai nước có thể cùng nhau giải quyết được bao nhiêu vấn đề của hôm nay và chuẩn bị được bao nhiêu điều cho ngày mai. Tôi nghĩ quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đang đi theo hướng đó.
PV: Kim ngạch thương mại hai nước đang hướng tới mục tiêu 100 tỷ USD. Đại sứ đánh giá thế nào về triển vọng hợp tác trong các lĩnh vực mới như chuỗi cung ứng bán dẫn, chuyển đổi xanh, năng lượng tái tạo và trí tuệ nhân tạo (AI) bên cạnh các lĩnh vực đầu tư truyền thống?
ĐS: Mục tiêu trước mắt của hai nước là đưa thương mại song phương đạt 100 tỷ USD trong năm 2026, nhưng tầm nhìn đã đi xa hơn: 150 tỷ USD vào năm 2030 theo hướng cân bằng và bền vững. Năm 2025, thương mại hai chiều đạt khoảng 94,6 tỷ USD và chỉ trong sáu tháng đầu năm 2026 đã đạt khoảng 62,4 tỷ USD. Vì vậy, vấn đề hiện nay không chỉ là làm cho con số lớn hơn, mà quan trọng hơn là làm cho chất lượng hợp tác cao hơn.
Trong ba thập kỷ qua, các doanh nghiệp Hàn Quốc đã đóng vai trò rất quan trọng trong công nghiệp hóa của Việt Nam, nhất là điện tử, chế tạo, cơ khí và công nghiệp hỗ trợ. Giai đoạn tới, tôi cho rằng hai bên cần tiến thêm một bước: từ quan hệ “đầu tư - sản xuất” sang “cùng nghiên cứu - cùng phát triển - cùng tham gia chuỗi giá trị”.
Bán dẫn là một ví dụ. Việt Nam có nguồn nhân lực trẻ, thị trường và hệ sinh thái sản xuất điện tử ngày càng lớn; Hàn Quốc có công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản trị và những tập đoàn hàng đầu thế giới. Hai bên hoàn toàn có thể kết nối từ đào tạo nhân lực, thiết kế, đóng gói, kiểm định đến R&D và phát triển doanh nghiệp cung ứng Việt Nam.
AI và năng lượng cũng cần được nhìn trong cùng một bài toán. AI, trung tâm dữ liệu và sản xuất công nghệ cao cần nguồn điện rất lớn và ổn định. Vì vậy, hợp tác về năng lượng sạch, lưới điện thông minh, lưu trữ năng lượng, quản trị năng lượng bằng AI sẽ ngày càng quan trọng. Tại Hội nghị cấp cao tháng 4/2026, hai bên đã nhất trí mở rộng hợp tác về AI, bán dẫn, lĩnh vực số, nghiên cứu chung về bán dẫn, pin thế hệ mới và các ngành công nghệ tương lai.
Tôi mong trong giai đoạn tới sẽ xuất hiện những “điểm neo” mới của quan hệ kinh tế Việt - Hàn: một trung tâm R&D lớn, một hệ sinh thái bán dẫn, một khu công nghiệp thông minh hay những dự án năng lượng - công nghệ có khả năng kéo theo hàng trăm doanh nghiệp hai nước.
Khi đó, chúng ta không chỉ nói Hàn Quốc đầu tư bao nhiêu vào Việt Nam, mà có thể nói Việt Nam và Hàn Quốc cùng tạo ra bao nhiêu giá trị mới.
PV: Cộng đồng người Việt tại Hàn Quốc hiện đã vượt mốc 300.000 người. Xin Đại sứ cho biết các chương trình trọng tâm của Đại sứ quán nhằm bảo hộ công dân, hỗ trợ kiều bào hội nhập sâu rộng và nâng cao vị thế của người Việt tại địa phương?
ĐS: Với quy mô gần 400.000 người, cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc hiện nay rất đa dạng: người lao động, du học sinh, chuyên gia, doanh nhân, các gia đình đa văn hóa và thế hệ trẻ sinh ra, lớn lên tại Hàn Quốc.
Do đó, công tác cộng đồng của Đại sứ quán cũng phải chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu là xử lý vụ việc sang đồng thời làm tốt ba việc: bảo vệ, hỗ trợ hội nhập và phát huy nguồn lực.
Trước hết là bảo hộ công dân. Chúng tôi coi trọng việc cung cấp thông tin pháp luật, cảnh báo sớm các rủi ro liên quan đến lao động, cư trú, học tập, hôn nhân, an toàn cá nhân; duy trì phối hợp với các cơ quan chức năng Hàn Quốc và các tổ chức cộng đồng để xử lý kịp thời những trường hợp công dân gặp khó khăn. Bảo hộ tốt nhất không phải chỉ là xử lý nhanh khi sự việc xảy ra, mà còn phải giúp công dân biết luật, hiểu quyền và tránh được rủi ro ngay từ đầu.
Thứ hai là hỗ trợ hội nhập. Chúng tôi mong người Việt Nam tại Hàn Quốc không chỉ ổn định cuộc sống mà ngày càng tham gia sâu hơn vào xã hội sở tại, nâng cao trình độ tiếng Hàn, tay nghề, ý thức pháp luật và năng lực nghề nghiệp.
Thứ ba, và ngày càng quan trọng, là nâng cao vị thế của cộng đồng. Đại sứ quán khuyến khích sự hình thành và kết nối các hội đoàn nghề nghiệp, doanh nhân, trí thức, sinh viên và thế hệ trẻ Việt Nam tại Hàn Quốc. Một cộng đồng mạnh không chỉ bởi đông người, mà bởi có nhiều người thành công, có tiếng nói, có khả năng đóng góp cho xã hội sở tại và vẫn gắn bó với quê hương.
Tôi mong trong tương lai, khi nhắc đến cộng đồng Việt Nam tại Hàn Quốc, người ta không chỉ nghĩ đến một cộng đồng lao động hay du học, mà còn nghĩ đến một cộng đồng của chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học, những công dân có năng lực và có trách nhiệm xã hội.
PV: Các gia đình đa văn hóa Việt - Hàn đóng vai trò rất đặc biệt trong sự kết nối hai dân tộc. Theo Đại sứ, chúng ta cần những chính sách hay giải pháp thiết thực nào để hỗ trợ việc duy trì tiếng Việt, bản sắc văn hóa cho thế hệ con em thứ hai (F2), cũng như giúp các người vợ/chồng Việt Nam hòa nhập bền vững?
ĐS: Đây là vấn đề tôi đặc biệt quan tâm. Hiện đã có trên 100.000 gia đình đa văn hóa Việt - Hàn. Đáng chú ý hơn, trong số học sinh phổ thông tại Hàn Quốc có nguồn gốc nhập cư, nhóm có cha hoặc mẹ là người Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ lớn nhất, khoảng 30,9%. Điều đó cho thấy một thế hệ Việt - Hàn mới đang thực sự hình thành.
Theo tôi, chúng ta cần nhìn các em không phải như một nhóm cần “hỗ trợ đặc biệt”, mà trước hết như một nguồn lực đặc biệt của cả hai nước. Các em có cơ hội hiểu hai ngôn ngữ, hai nền văn hóa và hai xã hội. Nếu được tạo điều kiện tốt, đó sẽ là một lợi thế rất lớn.
Việc đầu tiên là tiếng Việt. Cần mở rộng các lớp tiếng Việt cuối tuần, học liệu số, sách và nội dung phù hợp với trẻ em sinh ra tại Hàn Quốc; đồng thời tăng hợp tác với trường học và chính quyền địa phương. Không nên để việc giữ tiếng Việt trở thành công việc riêng của người mẹ Việt trong mỗi gia đình. Đây phải là sự chung tay của gia đình, cộng đồng và các cơ quan hai nước.
Thứ hai là tạo môi trường để các em hiểu và tự hào về cả hai nguồn gốc văn hóa. Không phải buộc các em lựa chọn mình là người Việt hay người Hàn, mà giúp các em hiểu rằng mình có thể mang trong mình cả hai bản sắc và biến điều đó thành một lợi thế.
Đối với các cô dâu, chú rể Việt Nam, hỗ trợ hội nhập cần đi xa hơn việc dạy tiếng Hàn ban đầu. Cần giúp họ tiếp cận đào tạo nghề, việc làm, dịch vụ pháp lý và xã hội; phát huy bằng cấp, kinh nghiệm và năng lực của chính họ.
Một gia đình đa văn hóa chỉ thực sự bền vững khi mỗi thành viên được tôn trọng. Và quan hệ Việt - Hàn sẽ càng bền vững khi hàng chục nghìn gia đình hai nước cảm nhận rằng chính họ là một phần của mối quan hệ ấy.
PV: Hàn Quốc hiện là một trong những điểm đến hàng đầu của lực lượng lao động và du học sinh Việt Nam. Đại sứ nhận định thế nào về cơ hội nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Việt Nam từ lực lượng này, và làm sao để tối ưu hóa cầu nối nguồn nhân lực giữa hai quốc gia?
ĐS: Tôi cho rằng đây là một nguồn lực rất lớn mà chúng ta mới khai thác được một phần. Theo số liệu giáo dục Hàn Quốc công bố tháng 8/2026, hiện có 96.834 sinh viên Việt Nam tại các cơ sở giáo dục đại học Hàn Quốc, chiếm 31,5% tổng số sinh viên quốc tế và lần đầu tiên trở thành cộng đồng sinh viên nước ngoài lớn nhất tại Hàn Quốc.
Nhưng từ góc độ phát triển nguồn nhân lực, điều quan trọng không chỉ là có bao nhiêu người Việt Nam sang Hàn Quốc học tập và làm việc. Quan trọng hơn là họ học được gì, làm được gì và sau đó những kiến thức, kỹ năng, mạng lưới ấy được kết nối với Việt Nam như thế nào.
Tôi nghĩ cần xây dựng một chu trình tương đối hoàn chỉnh.
Trước khi sang Hàn Quốc, cần định hướng tốt hơn về ngành nghề, kỹ năng và nhu cầu thực tế của hai nền kinh tế. Trong thời gian học tập và làm việc, cần tạo thêm cơ hội thực tập, nghiên cứu, tham gia doanh nghiệp công nghệ và nâng cấp tay nghề. Khi trở về Việt Nam hoặc tiếp tục làm việc tại Hàn Quốc, cần có mạng lưới kết nối họ với doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các dự án hợp tác giữa hai nước.
Đặc biệt, các doanh nghiệp Hàn Quốc đang hoạt động tại Việt Nam có thể trở thành một mắt xích rất quan trọng. Một người lao động đã làm việc nhiều năm trong một nhà máy Hàn Quốc, hiểu công nghệ, kỷ luật lao động và tiếng Hàn; hay một sinh viên tốt nghiệp về bán dẫn, AI, công nghệ sinh học tại Hàn Quốc đều có thể trở thành nguồn nhân lực rất có giá trị khi trở về Việt Nam.
Tôi thích cách tiếp cận “tuần hoàn chất xám” hơn là chỉ nói “chống chảy máu chất xám”. Trong thế giới ngày nay, con người có thể học ở một nước, làm việc ở nước khác nhưng vẫn tạo giá trị cho quê hương.
Nếu làm tốt, dòng người đi lại giữa Việt Nam và Hàn Quốc sẽ không đơn thuần là dòng lao động hay du học sinh, mà trở thành dòng chảy của tri thức, kỹ năng và đổi mới sáng tạo giữa hai nền kinh tế.
PV: Nhìn về tương lai của mối quan hệ “bện tơ kết lụa” giữa hai dân tộc, Đại sứ muốn gửi gắm thông điệp hoặc kỳ vọng gì đến cộng đồng doanh nghiệp, người dân hai nước cũng như thế hệ trẻ Việt - Hàn?
ĐS: Tôi thường nghĩ rằng Việt Nam và Hàn Quốc có một điều khá đặc biệt: quan hệ giữa hai nước không chỉ được xây dựng bởi Chính phủ hay doanh nghiệp, mà ngày càng được dệt nên từ chính cuộc sống của người dân.
Hàng vạn doanh nghiệp đang làm ăn với nhau. Hàng trăm nghìn người Việt Nam đang sống tại Hàn Quốc, một cộng đồng lớn người Hàn Quốc đang sinh sống tại Việt Nam; trên 100.000 gia đình đa văn hóa gắn hai đất nước bằng những mối quan hệ rất đời thường. Vì vậy, câu chuyện “bện tơ kết lụa” hôm nay không còn chỉ là một hình ảnh đẹp, mà đã trở thành một thực tế xã hội.
Với cộng đồng doanh nghiệp, tôi mong hai bên đi xa hơn quan hệ mua - bán hay chủ đầu tư - nơi tiếp nhận đầu tư. Doanh nghiệp Hàn Quốc có thể cùng doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, đào tạo nhân lực, phát triển nhà cung ứng và bước vào những lĩnh vực mới như bán dẫn, AI, năng lượng, công nghệ sinh học. Khi lợi ích được chia sẻ tốt hơn, quan hệ kinh tế cũng sẽ bền hơn.
Với người dân hai nước, điều quan trọng nhất vẫn là hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Càng gần nhau, chúng ta càng cần hiểu nhau sâu hơn, kể cả những khác biệt trong lịch sử, văn hóa và cách suy nghĩ.
Và tôi đặc biệt đặt kỳ vọng vào thế hệ trẻ Việt - Hàn. Các bạn có lợi thế mà thế hệ chúng tôi trước đây không có: ngôn ngữ, công nghệ, khả năng di chuyển và một không gian hợp tác gần như không còn giới hạn. Tôi mong các bạn không chỉ trở thành người thụ hưởng quan hệ tốt đẹp giữa hai nước mà sẽ trở thành người kiến tạo giai đoạn tiếp theo của quan hệ đó.
Ba mươi năm đầu tiên của quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc chủ yếu là câu chuyện về mở cửa, đầu tư và kết nối. Ba mươi năm tới, tôi hy vọng sẽ là câu chuyện về cùng sáng tạo, cùng trưởng thành và cùng chia sẻ trách nhiệm đối với tương lai.
Sợi tơ có thể bắt đầu rất mảnh. Nhưng khi nhiều sợi cùng được bện lại, nó trở thành một mối dây bền chắc. Tôi tin quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc cũng đang được xây dựng theo cách như vậy./.
© Bản quyền thuộc về Thời báo Kinh tế AJU & www.ajunews.com: Việc sử dụng các nội dung đăng tải trên vietnam. kyungjeilbo.com phải có sự đồng ý bằng văn bản của Aju News Corporation.





