Thứ Ba, ngày 05 tháng 08 năm 2026
Có thuốc nhưng không đủ tiền chữa: Chi phí điều trị ung thư trở thành gánh nặng lớn tại Việt Nam

Có thuốc nhưng không đủ tiền chữa: Chi phí điều trị ung thư trở thành gánh nặng lớn tại Việt Nam

HO THI LONG AN 16:13 05-08-2026
Thuốc điều trị thế hệ mới giúp kéo dài sự sống nhưng chi phí lên tới hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng; nhiều bệnh nhân buộc phải từ bỏ điều trị
Phòng phẫu thuật tại Cơ sở 2 của Bệnh viện Ung bướu TP Hồ Chí Minh 
Ảnh Bệnh viện cung cấp
Phòng phẫu thuật tại Cơ sở 2 của Bệnh viện Ung bướu TP. Hồ Chí Minh. [Ảnh: Bệnh viện cung cấp]

Ung thư đang dần trở thành không chỉ là vấn đề y tế mà còn là gánh nặng kinh tế đối với nhiều gia đình Việt Nam và hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia. Mặc dù các loại thuốc điều trị ung thư thế hệ mới đã mở ra nhiều cơ hội kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân, chi phí điều trị quá cao khiến không ít người phải từ bỏ hy vọng vì không đủ khả năng chi trả.

Theo các phương tiện truyền thông Việt Nam như VnExpress ngày 5/8, sự phát triển của y học đang đặt ngành y tế trước một nghịch lý: phương pháp điều trị càng hiện đại thì chi phí càng đắt đỏ.

Hiện nay, bên cạnh hóa trị truyền thống, nhiều bệnh viện đã sử dụng các liệu pháp điều trị đích, thuốc miễn dịch và thuốc sinh học. Những phương pháp này có khả năng tấn công chọn lọc tế bào ung thư, giúp tăng hiệu quả điều trị, giảm tác dụng phụ và kéo dài thời gian sống cho người bệnh.

Tuy nhiên, chi phí điều trị lại là rào cản lớn nhất.

Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Thu Hằng cho biết tại một hội nghị về phòng chống ung thư gần đây rằng chi phí của nhiều phác đồ điều trị hiện nay dao động từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng.

Đối với bệnh nhân ung thư vú dương tính với HER2, thuốc trastuzumab có chi phí khoảng 800–900 triệu đồng cho một năm điều trị, chưa bao gồm các khoản xét nghiệm, truyền thuốc và theo dõi.

Trong khi đó, thuốc điều trị miễn dịch pembrolizumab, được sử dụng cho bệnh nhân ung thư phổi, dạ dày, thực quản và cổ tử cung, có giá trên 60 triệu đồng mỗi lọ. Tùy theo phác đồ, mỗi chu kỳ điều trị có thể cần hai lọ thuốc. Nếu điều trị kéo dài từ một đến hai năm, riêng tiền thuốc có thể vượt mốc một tỷ đồng.

Bảo hiểm y tế hiện đã thanh toán một phần đối với một số thuốc điều trị đích như bevacizumab, trastuzumab, rituximab, imatinib và cetuximab. Tuy nhiên, mức chi trả chỉ dao động từ 30%, 50% đến 70% tùy loại thuốc và chỉ định điều trị, phần còn lại người bệnh phải tự thanh toán.

Riêng kinh phí bảo hiểm dành cho các thuốc điều trị đích đã lên tới khoảng 2.000 tỷ đồng mỗi năm.
Áp lực tài chính cũng ngày càng lớn đối với quỹ bảo hiểm y tế. Theo thống kê của Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh, tổng chi phí khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế của thành phố năm 2025 ước khoảng 33.000 tỷ đồng, trong đó chi phí điều trị ung thư chiếm khoảng 5.000 tỷ đồng, tương đương gần 17%.

Chỉ trong sáu tháng đầu năm nay, quỹ bảo hiểm đã chi gần 2.478 tỷ đồng cho hơn 619.000 lượt khám và điều trị ung thư.

Các bệnh viện tuyến cuối cũng nhận nguồn chi bảo hiểm rất lớn. Bệnh viện Chợ Rẫy mỗi năm được thanh toán khoảng 4.500 tỷ đồng, Bệnh viện Ung bướu TP. Hồ Chí Minh khoảng 2.000 tỷ đồng và Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh gần 2.000 tỷ đồng.

Dù có bảo hiểm, nhiều bệnh nhân vẫn phải tự bỏ ra từ 50 đến 60 triệu đồng mỗi tháng để tiếp tục điều trị bằng các loại thuốc chỉ được thanh toán một phần. Đây là khoản chi vượt quá khả năng của đa số hộ gia đình Việt Nam.

Ngoài ra, nhiều loại thuốc mới đã được sử dụng rộng rãi tại các nước phát triển từ 5–10 năm trước vẫn chưa được đưa vào danh mục thanh toán của bảo hiểm y tế Việt Nam. Điều này khiến những bệnh nhân có điều kiện kinh tế có thể tiếp cận thuốc, trong khi nhiều người khác buộc phải từ bỏ cơ hội điều trị.

Số lượng bệnh nhân ung thư cũng đang gia tăng nhanh chóng. Theo bà Nguyễn Thị Thu Hằng, số bệnh nhân ung thư tại TP. Hồ Chí Minh đã tăng từ khoảng 337.000 người năm 2024 lên 378.000 người năm 2025, tương đương mức tăng khoảng 12% chỉ sau một năm.

Chi phí điều trị không chỉ bao gồm thuốc mà còn kéo theo hàng loạt khoản khác như xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật, xạ trị và theo dõi lâu dài, tạo áp lực rất lớn lên quỹ bảo hiểm y tế.

Theo số liệu GLOBOCAN 2024 của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC), mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 177.400 ca ung thư mới và hơn 111.000 người tử vong vì căn bệnh này. Hiện có trên 404.000 người đang sống chung với ung thư trong vòng 5 năm kể từ khi được chẩn đoán.

Như vậy, trung bình cứ khoảng 5 phút lại có một người tử vong vì ung thư tại Việt Nam.
Trong 16 năm qua, số ca mắc mới đã tăng khoảng 59%, trong khi số ca tử vong tăng khoảng 35%.

Các chuyên gia cho rằng tỷ lệ tử vong cao chủ yếu xuất phát từ việc nhiều bệnh nhân chỉ phát hiện bệnh khi ung thư đã ở giai đoạn muộn. Tại Việt Nam, số người tử vong tương đương khoảng 63% số ca mắc mới, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ, Anh hay Nhật Bản chỉ dao động khoảng 35–40%.

Bên cạnh đó, tình trạng thiếu bác sĩ chuyên khoa ung bướu, bác sĩ giải phẫu bệnh và nhân lực xạ trị, cùng với hệ thống đăng ký dữ liệu ung thư chưa đồng bộ trên phạm vi toàn quốc cũng đang cản trở công tác phòng chống ung thư.

Trên các diễn đàn trực tuyến, nhiều độc giả bày tỏ lo ngại về gánh nặng chi phí điều trị. Một số người kỳ vọng ngành dược trong nước sẽ sớm phát triển các loại thuốc điều trị ung thư với giá thành thấp hơn. Nhiều ý kiến khác cho rằng cần mở rộng phạm vi chi trả của bảo hiểm y tế để giảm bớt áp lực tài chính cho bệnh nhân.

Không ít người cũng nhấn mạnh rằng phòng bệnh vẫn là giải pháp quan trọng nhất. Theo họ, cần tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm, cải thiện môi trường sống và đưa kiến thức chăm sóc sức khỏe vào chương trình giáo dục từ bậc tiểu học nhằm góp phần giảm nguy cơ mắc ung thư trong tương lai.