Theo báo cáo của Cơ quan Dữ liệu Quốc gia công bố ngày 20 tháng 8, số lượng người có việc làm tại các khu vực thành phố đạt 14.271.000 người, tăng 96.000 người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ việc làm là 62,5%, giảm 0,1 điểm phần trăm. Trong khi đó, số lượng người có việc làm tại khu vực nông thôn là 2.130.000 người, tăng 26.000 người, và tỷ lệ việc làm đạt 69,4%, tăng 0,2 điểm phần trăm.
Ngược lại, tại 75 khu vực thành phố lớn, số lượng người có việc làm giảm xuống còn 11.565.000 người, giảm 25.000 người, và tỷ lệ việc làm cũng giảm xuống còn 58,6%, giảm 0,2 điểm phần trăm. Nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút số lượng người có việc làm ở các khu vực thành phố lớn chủ yếu do tình trạng khó khăn trong ngành sản xuất và xây dựng.
Ông Kim Rak-hyun, Trưởng phòng Thống kê Việc làm của Cơ quan Dữ liệu Quốc gia, cho biết: "Sự giảm sút số lượng người có việc làm trong ngành sản xuất và xây dựng có lẽ là nguyên nhân chính. Các ngành này chủ yếu thu hút nhiều lao động nam, và tình hình kinh tế không thuận lợi đã dẫn đến việc số lượng người có việc làm trong các ngành này tiếp tục giảm trong hơn 20 tháng qua, ảnh hưởng đến các khu vực thành phố lớn."
Xét về tỷ lệ việc làm theo khu vực, sự chênh lệch càng rõ rệt hơn. Tại khu vực nông thôn, huyện Uljin ở tỉnh Gyeongsangbuk-do có tỷ lệ việc làm cao nhất với 84,3%. Tiếp theo là huyện Sinan ở tỉnh Jeollanam-do với 80,4%, huyện Hadong ở tỉnh Gyeongsangnam-do với 78,1%, và huyện Hwacheon ở tỉnh Gangwon với 76,1%. Ngược lại, thành phố Gyeongsan ở tỉnh Gyeongsangbuk-do có tỷ lệ việc làm thấp nhất với 54,4%, thành phố Dongducheon ở tỉnh Gyeonggi với 56,8%, và thành phố Mokpo ở tỉnh Jeollanam-do với 57,6% cũng có tỷ lệ thấp. Sự chênh lệch giữa huyện Uljin và thành phố Gyeongsan lên tới 29,9 điểm phần trăm.
Tại các thành phố lớn, huyện Ongjin ở tỉnh Incheon có tỷ lệ việc làm cao nhất với 79,7%, tiếp theo là huyện Gunwi ở tỉnh Daegu với 76,6%. Quận Yeongdo ở Busan có tỷ lệ thấp nhất với 48,6%, trong khi quận Seo ở Daegu chỉ đạt 50,7%. Tại Seoul, quận Yeongdeungpo có tỷ lệ việc làm là 64,3%, trong khi quận Jongno chỉ đạt 51,8%, với sự chênh lệch là 12,5 điểm phần trăm.
Đặc điểm ngành nghề cũng phản ánh trong các chỉ số việc làm theo khu vực. Tỷ lệ người có việc làm trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp cao nhất thuộc về huyện Uiseong ở tỉnh Gyeongsangbuk-do với 55,9%, trong khi ngành công nghiệp chế biến và sản xuất cao nhất là thành phố Geoje ở tỉnh Gyeongsangnam-do với 40,5%. Ngành xây dựng có tỷ lệ cao nhất tại thành phố Yeosu ở tỉnh Jeollanam-do, trong khi ngành bán buôn, bán lẻ và dịch vụ lưu trú, ăn uống cao nhất thuộc về huyện Gapyeong ở tỉnh Gyeonggi.
Về độ tuổi, sự chênh lệch tỷ lệ việc làm ở nhóm người cao tuổi rất rõ rệt. Tỷ lệ việc làm của người từ 65 tuổi trở lên tại huyện Cheongsong ở tỉnh Gyeongsangbuk-do đạt 79,7%, huyện Jangsu ở tỉnh Jeollabuk-do đạt 79,1%. Ngược lại, thành phố Yongin ở tỉnh Gyeonggi chỉ đạt 28,0%, trong khi thành phố Mokpo ở tỉnh Jeollanam-do chỉ đạt 31,1%. Đối với nhóm thanh niên, huyện Uljin ở tỉnh Gyeongsangbuk-do có tỷ lệ việc làm cao nhất với 77,4%, huyện Wando ở tỉnh Jeollanam-do đạt 67,2%, trong khi huyện Geochang ở tỉnh Gyeongsangnam-do chỉ đạt 20,5%, mức thấp.
Dân số từ 15 tuổi trở lên tại khu vực nông thôn là 3.067.000 người, tăng 29.000 người so với năm trước. Đây là lần đầu tiên dân số tăng kể từ năm 2016. Ông Kim cho biết tỷ lệ việc làm tại khu vực nông thôn "đạt mức cao nhất kể từ khi bắt đầu thống kê vào năm 2013", và cho rằng "các chính sách và cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho các khu vực có nguy cơ dân số giảm là nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng này."
* Bài viết này được dịch tự động bằng AI.
© Bản quyền thuộc về Thời báo Kinh tế AJU & www.ajunews.com: Việc sử dụng các nội dung đăng tải trên vietnam. kyungjeilbo.com phải có sự đồng ý bằng văn bản của Aju News Corporation.



