Thứ Ba, ngày 28 tháng 07 năm 2026
Trẻ mắc u não: Nguy cơ biến chứng vẫn xuất hiện gần 18 năm sau khi khỏi bệnh

Trẻ mắc u não: Nguy cơ biến chứng vẫn xuất hiện gần 18 năm sau khi khỏi bệnh

HO THI LONG AN 14:47 28-07-2026
Nghiên cứu của Bệnh viện Đại học Quốc gia Seoul cho thấy bệnh nhi u tế bào mầm nội sọ cần được theo dõi suốt nhiều thập kỷ sau điều trị
 
U não tế bào mầm nội sọ
Seoul  Yonhap News Hình ảnh u não tế bào mầm nội sọ intracranial germinoma xuất hiện tại vùng tuyến tùng ở trung tâm não được khoanh tròn màu vàng Ảnh chụp ngày 2872026 Ảnh do Bệnh viện Đại học Quốc gia Seoul cung cấp
U não tế bào mầm nội sọ (Seoul = Yonhap News) Hình ảnh u não tế bào mầm nội sọ (intracranial germinoma) xuất hiện tại vùng tuyến tùng ở trung tâm não, được khoanh tròn màu vàng. Ảnh chụp ngày 28/7/2026. [Ảnh do Bệnh viện Đại học Quốc gia Seoul cung cấp]

Một nghiên cứu mới của Hàn Quốc cho thấy, ngay cả những trẻ mắc u não có tỷ lệ chữa khỏi rất cao cũng cần được theo dõi lâu dài sau điều trị. Các biến chứng nghiêm trọng, trong đó có ung thư thứ phát, có thể xuất hiện trung bình sau gần 18 năm kể từ khi bệnh được chữa khỏi.

Kết quả nghiên cứu do nhóm chuyên gia của Bệnh viện Đại học Quốc gia Seoul công bố ngày 28/7 cho thấy việc khám sức khỏe định kỳ và theo dõi lâu dài là yếu tố quan trọng nhằm phát hiện sớm các biến chứng muộn ở bệnh nhân từng mắc u tế bào mầm nội sọ.

Nghiên cứu được thực hiện trên 160 bệnh nhân điều trị bệnh từ năm 1983 đến năm 2013 dưới sự dẫn dắt của Giáo sư danh dự Wang Kyu-chang (hiện công tác tại Trung tâm Ung thư Quốc gia Hàn Quốc), cùng các giáo sư Kim Seung-ki, Kim Kyung-hyun, Kim Il-han và Shim Young-bo.

U tế bào mầm nội sọ là loại u não thường gặp ở trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ tuổi. Bệnh đáp ứng tốt với hóa trị và xạ trị, giúp tỷ lệ sống sau điều trị đạt mức rất cao. Tuy nhiên, do phần lớn bệnh nhân phải tiếp xúc với tia xạ từ khi còn nhỏ, các bác sĩ luôn lo ngại về nguy cơ xuất hiện tác dụng phụ kéo dài như ung thư thứ phát, rối loạn nội tiết hoặc tổn thương thần kinh.

Theo nghiên cứu, tỷ lệ sống sau 5 năm và 10 năm của bệnh nhân lần lượt đạt 93,8% và 88,6%. Trong khi đó, nguy cơ tái phát của khối u ban đầu ổn định ở mức 5,6% sau năm thứ năm và gần như không tăng thêm về sau.

Tuy nhiên, nguy cơ mắc ung thư thứ phát lại tăng dần theo thời gian. Tỷ lệ mắc ung thư mới đạt 0,6% sau 5 năm và tăng lên 2,1% sau 10 năm điều trị.

Đáng chú ý, 14 bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư thứ phát sau thời gian trung bình 17,6 năm kể từ khi điều trị khối u đầu tiên. Trong số này, có tới 11 người từng được xạ trị khi còn ở tuổi thiếu niên, cho thấy việc tiếp xúc với tia xạ trong giai đoạn phát triển có thể làm tăng nguy cơ biến chứng về sau.

Nghiên cứu cũng ghi nhận trong tổng số 31 bệnh nhân tử vong, có 9 trường hợp qua đời do ung thư thứ phát liên quan đến điều trị xạ trị trước đó.

Ngoài ung thư, nhiều biến chứng lâu dài khác cũng được phát hiện. Khoảng 19,5% bệnh nhân phải điều trị bổ sung hormone do rối loạn nội tiết, trong khi 2,5% mắc các bệnh lý mạch máu do ảnh hưởng của xạ trị.

Giáo sư Kim Seung-ki cho biết mặc dù u tế bào mầm nội sọ là một trong những loại u não có khả năng chữa khỏi rất cao, nhưng các biến chứng có thể xuất hiện sau hàng chục năm. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống theo dõi bệnh nhân sống sót trên 20 năm và tiếp tục thực hiện các nghiên cứu dài hạn qua nhiều thế hệ để nâng cao hiệu quả chăm sóc.

Nghiên cứu được thực hiện với sự hỗ trợ của Chương trình Lee Kun-hee về điều trị ung thư nhi và bệnh hiếm, đồng thời đã được đăng tải trên số mới nhất của tạp chí quốc tế Neuro-Oncology Advances.