Thứ Ba, ngày 13 tháng 07 năm 2026
Phụ nữ Hàn Quốc kết hôn khi không có việc làm giảm mạnh, phụ nữ làm nghề chuyên môn lần đầu vượt xa nhóm nội trợ và sinh viên

Phụ nữ Hàn Quốc kết hôn khi không có việc làm giảm mạnh, phụ nữ làm nghề chuyên môn lần đầu vượt xa nhóm nội trợ và sinh viên

HO THI LONG AN 07:06 13-07-2026
 
Những chiếc váy cưới được trưng bày tại Triển lãm Cưới tổ chức ở EXCO quận Buk thành phố Daegu vào ngày 92 năm ngoái

Ảnh tư liệu Yonhap News
Những chiếc váy cưới được trưng bày tại Triển lãm Cưới tổ chức ở EXCO, quận Buk, thành phố Daegu vào ngày 9/2 năm ngoái. [Ảnh tư liệu: Yonhap News.]

Cơ cấu phụ nữ kết hôn tại Hàn Quốc đang có sự thay đổi rõ rệt khi số phụ nữ kết hôn trong tình trạng không có việc làm, làm nội trợ hoặc còn là sinh viên đã giảm xuống chỉ còn khoảng 1/5 so với 16 năm trước. Trong khi đó, số phụ nữ làm các nghề chuyên môn ngày càng tăng và hiện đã vượt nhóm không có việc làm.

Theo số liệu từ Cổng Thống kê Quốc gia Hàn Quốc (KOSIS) được công bố ngày 13/7, năm 2025 có 33.143 phụ nữ kết hôn khi thuộc nhóm không có việc làm, nội trợ hoặc sinh viên. Con số này giảm mạnh so với 155.081 người của năm 2008, thời điểm hệ thống thống kê hiện nay bắt đầu được áp dụng.

Trong nhiều năm qua, số phụ nữ thuộc nhóm này liên tục giảm. Đến năm 2016, số lượng đã xuống dưới 100.000 người và từ năm 2021 chỉ còn khoảng hơn 30.000 người mỗi năm. Dù vậy, năm 2025 ghi nhận mức tăng nhẹ khoảng 2% so với năm trước.

Trong tổng số 240.326 phụ nữ kết hôn năm ngoái, nhóm không có việc làm, nội trợ hoặc sinh viên chỉ chiếm 13,8%.
Đây là tỷ lệ thấp hơn nhiều so với nhóm nhân viên văn phòng – nhóm nghề nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 75.361 người, tương đương 31,4%.

Đáng chú ý, số phụ nữ làm các nghề chuyên môn như bác sĩ, luật sư, thẩm phán, công tố viên và các ngành nghề chuyên môn khác đạt 45.282 người, chiếm 18,8%, cao hơn nhóm không có việc làm tới 12.139 người.

Nếu như năm 2008, số phụ nữ làm nghề chuyên môn kết hôn chỉ bằng khoảng một phần ba nhóm không có việc làm thì khoảng cách này dần thu hẹp qua từng năm. Đến năm 2018, lần đầu tiên số phụ nữ làm nghề chuyên môn kết hôn vượt nhóm không có việc làm, nội trợ và sinh viên, và từ đó tiếp tục nới rộng khoảng cách.

Ngoài hai nhóm trên, năm 2025 còn ghi nhận 37.689 phụ nữ làm trong lĩnh vực dịch vụ và bán hàng kết hôn; 3.950 người là quản lý; 2.319 người là lao động kỹ thuật; 1.154 người làm nông, lâm, ngư nghiệp; 698 người vận hành máy móc và lắp ráp; 3.689 lao động phổ thông; cùng 37.041 trường hợp thuộc nhóm nghề khác hoặc chưa xác định.

Theo giới phân tích, xu hướng này phản ánh trình độ học vấn của phụ nữ Hàn Quốc ngày càng cao, đồng thời cơ hội tham gia vào các ngành nghề chuyên môn cũng được mở rộng hơn trước.

Bên cạnh đó, độ tuổi kết hôn lần đầu ngày càng tăng cũng khiến số phụ nữ kết hôn khi còn là sinh viên giảm đáng kể.
Năm 2025, tuổi kết hôn lần đầu trung bình của phụ nữ Hàn Quốc đạt 31,6 tuổi, tăng 3,3 tuổi so với mức 28,3 tuổi của năm 2008.

Trong cùng giai đoạn, tỷ lệ có việc làm của phụ nữ trong nhóm tuổi 30–34 – độ tuổi kết hôn phổ biến nhất – đã tăng lên 75,1%, cao hơn 23,2 điểm phần trăm so với năm 2008.

Áp lực chi phí sinh hoạt cũng được xem là một nguyên nhân quan trọng khiến ngày càng nhiều cặp đôi ưu tiên mô hình gia đình có hai nguồn thu nhập thay vì chỉ một người đi làm.

Theo cơ quan thống kê Hàn Quốc, tính đến tháng 10 năm ngoái, số hộ gia đình có vợ chồng cùng đi làm đạt 6,153 triệu hộ, mức cao nhất kể từ khi nước này bắt đầu thống kê chỉ tiêu này.

Xét theo địa phương, tỷ lệ phụ nữ kết hôn khi không có việc làm, làm nội trợ hoặc còn là sinh viên cao nhất thuộc về tỉnh Bắc Gyeongsang với 19,4%, tiếp theo là Nam Jeolla (17,8%), Bắc Jeolla (17,4%) và thành phố Ulsan (17,3%).
Ngược lại, thành phố tự trị Sejong và thủ đô Seoul có tỷ lệ thấp nhất, lần lượt là 6,9% và 7,8%.

Các chuyên gia nhận định những địa phương có tỷ lệ phụ nữ không có việc làm khi kết hôn cao thường cũng là nơi phụ nữ kết hôn ở độ tuổi trẻ hơn. Trong khi đó, Seoul và Sejong là hai địa phương có tuổi kết hôn lần đầu cao nhất cả nước, lần lượt đạt 32,4 tuổi và 32 tuổi, cho thấy mối liên hệ giữa việc kéo dài thời gian học tập, phát triển sự nghiệp và xu hướng kết hôn muộn của phụ nữ Hàn Quốc.
 
*Phụ nữ kết hôn theo nghề nghiệp
 
Năm Lao động chuyên môn & ngành nghề liên quan Không nghề nghiệp, Nội trợ, Sinh viên
2008 51.223 155,081
2009 53,488 144,340
2010 54.054 146.749
2011 59.860 140.451
2012 65.548 128.426
2013 68.723 120.275
2014 66.581 107.966
2015 65.795 102.915
2016 62.053 90.723
2017 59.348 79.828
2018 61.544 59.778
2019 56.547 53.602
2020 49.552 42.667
2021 42.500 36.393
2022 40.723 33.884
2023 38.495 32.498
2024 43.985 32.481
2025 45.282 33.143
(Tài liệu do Tổng cục Thống kê cung cấp)